Đột tử nguy hiểm thế nào? | LIFESTYLE ONLINE

Đột tử nguy hiểm thế nào?

Hơn 7.000.000 trường hợp đột tử do tim gây ra hàng năm trên toàn thế giới. Trong đó, nam giới chiếm tỉ lệ cao hơn gấp 3 lần so với nữ giới. Tuổi đột tử do tim tương đương với nhóm tuổi mắc bệnh mạch vành tim từ 45 – 75 tuổi. Nguy hiểm là khoảng 50% các trường hợp ngưng tim xảy ra ở những người không biết có bệnh tim mạch trước đó.

Đột tử là một cái chết không được dự báo, không do chấn thương, xảy ra trong khoảng thời gian ngắn 1 giờ từ khi khởi phát triệu chứng ở một người khỏe mạnh trước đó.

đột tử nguy hiểm thế nào

Đột tử do tim là các trường hợp bệnh lý tim mạch bẩm sinh hay mắc phải, được dự đoán nguy cơ tử vong cao. Cơ chế chủ yếu của đột tử do tim là rối loạn nhịp tim như nhịp nhanh thất, rung thất. Nguyên nhân hàng đầu của đột tử do tim là bệnh mạch vành tim chiếm 60 – 70% các trường hợp. Triệu chứng hay gặp là đau ngực, mệt, hồi hộp hay các cảm giác khó chịu không đặc hiệu.

Những yếu tố nguy cơ cao cho đột tử gồm: ngưng tim được cứu sống trước đó, tiền căn có cơn rối loạn nhịp nhanh thất hay rung thất, có ngất, tiền sử gia đình có người bị đột tử, nhồi máu cơ tim, sức co bóp cơ tim kém < 35%, có tụt huyết áp, đau ngực hay rối loạn nhịp lúc gắng sức.

Đột tử ngưng tim

Tiên đoán yếu tố nguy cơ gây đột tử do tim

Ở những người không biết bệnh lý tim: Khoảng 50% các trường hợp ngưng tim xảy ra ở những người không biết có tim mạch trước đó, nhưng hầu hết họ có bệnh lý tim thiếu máu yên lặng. Vì vậy cách tiếp cận hiệu quả trong phòng ngừa đột tử do tim ở những bệnh nhân có nguy cơ bệnh lý mạch vành tim là tính nguy cơ bệnh mạch vành dựa trên thang điểm nguy cơ bệnh lý. Các yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành tim: Tiền căn gia đình mắc bệnh mạch vành sớm (55 đối với nam và 65 đối với nữ), hút thuốc lá, tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, chỉ số khối cơ thể (tình trạng quá cân, béo phì).

nguy cơ đột tử

Nguy cơ đột tử do tim giảm khoảng 40% từ việc điều trị tích cực giảm các yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành tim và bệnh tim mạch khác.

Theo nghiên cứu Paris xuất bản năm 1999, tiền sử gia đình có cha hoặc mẹ đột tử làm tăng nguy cơ đột tử ở các người con từ 1,89 lần lên 9,44 lần nếu có cả cha và mẹ bị đột tử.

Ở những người có bệnh tim thiếu máu: Những bệnh nhân có chức năng co bóp cơ tim kém hay phân suất tống máu giảm (EF < 35%) sẽ có nhiều nguy cơ đột tử do rối loạn nhịp tim. Chính vì vậy, hiện nay theo khuyến cáo của Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ và Hội tim mạch Châu Âu đều thống nhất đưa ra khuyến cáo: Cấy máy phá rung tim phòng ngừa đột tử cho các bệnh nhân có chức năng tim co bóp cơ tim giảm nặng.

Ở những bệnh nhân có rối loạn nhịp tim do gen có tính di truyền: bao gồm các bệnh về cơ tim và các bệnh về kênh điện thế như hội chứng QT dài, bệnh cơ tim phì đại, hội chứng Brugada, nhịp nhanh thất đa dạng do tăng Catecholamine, bệnh cơ gây rối loạn nhịp.

Phòng ngừa

phòng ngừa đột tử

Tầm soát nguy cơ các thành viên trong gia đình có người đột tử sớm.

Hơn 50% các trường hợp đột tử do rối loạn nhịp di truyền được phát hiện trong các gia đình có người đột tử do rối loạn nhịp tim. Đột tử người trẻ hay gặp do rối loạn nhịp tim bởi bệnh lý di truyền cơ tim hay các kênh điện thế trong tim. Đột tử ở người > 40 tuổi thường liên quan đến bệnh mạch vành.

Tầm soát các thành viên trong gia đình có quan hệ huyết thống gần (thế hệ thứ nhất) của người đột tử, giúp xác định những người có nguy cơ, đưa ra các lời khuyên về điều trị và phòng ngừa thích hợp.

Tầm soát những người đã biết hay nghi ngờ có rối loạn nhịp thất.

Cảm giác hồi hộp (tim đập nhanh) do rối loạn nhịp tim, thường khởi phát và kết thúc đột ngột, có thể gây ngất hay gần ngất. Ngất xảy ra lúc gắng sức, ngồi hay nằm, cần nghi ngờ do nguyên nhân tim.

Điều trị